bày tỏ nỗi đau khổ éo le của duyên
phận. Khi chàng họ Đào từ giã, cô gái gạt nước mắt nhìn theo. Nàng
đâu có ngờ rằng từ đằng xưa, người chồng của mình đã nhìn thấy
cảnh chuyện trò vừa rồi, và cơn ghen của hắn bốc lên bừng bừng. Khi
nàng đi đến nơi, hắn ta lấy cớ đưa cơm chậm chạp, liền xông lại gây
sự. Vợ nói lại mấy câu thì con người vũ phu đó nổi xung lên, không
đợi tìm hiểu phải trái trong tay cầm cái cuốc khoai, hắn thuận đưà
ném vào người vợ. Không ngờ phạm nhằm chỗ hiểm, người vợ gục
xuống bất tỉnh nhân sự. Hắn lo sợ, lén lưút vực vợ về nhà, nói dối là
ngộ cảm, rồi sau đó cử hành chôn cất không một ai ngờ vực.
Nghe tin người yêu chết đột ngột, anh chàng họ Đưào không
ngăn được kinh ngạc và thương cảm. Anh bèn làm một cỗ cúng, rồi vì
không thuận tiện đến nhà, chờ lúc đêm khuya, anh đem cũng ở mộ
người yêu. Nhưng điều không ngờ là: trong lưúc anh đưang sụp sùi
khấn khứa, thì nghe trong mộ có tiếng động phát ra. Thấy sự lạ, anh
vội trở về gọi người nhà đem cuốc thuổng đến đưào lên. Khi nạy nắp
áo quan thì mới biết là người chết sống trở lại. Số là cô nàng bị chồng
ném cuốc ngất lịm đi nhưng chưa chết thật, còn người chồng thì sợ
mang tội giết người nên vội khám nghiệm rồi chôn cất sơ sài cho
xong. Sau đó bị chôn, người chết dần dần hồi tỉnh và co cẳng đạp vào
áo quan và cầu cứu đúng vào lúc người yêu đang cúng mộ.
Anh chàng họ Đào trong lòng mừng rỡ, bèn cùng với người nhà
đắp mộ lại như cũ rồi vực nàng về nhà hết sức chữa chạy. Khi đã trở
lại bình thường cô gái kể hết tất cả sự tình cho anh nghe. Anh dặn
người nhà giữ kín việc này, mà sau đó bí mật đưa người yêu đến chỗ
làm quan. Hai người trở thành vợ chồng không cheo cưới.
Lại nói chuyện anh chồng cũ cũng như mọi người trong làng
vẫn không ngờ rằng người chết đưã được cứu sống lại. Cho nên hắn
vẫn cúng cúng đơm đơm theo đúng tục lệ.
Ba năm sau, một hôm hắn có dịp đi trẩy hội chùa ở một trấn
đàng ngoài. Trên đường đến chùa, hắn bỗng thoáng gặp một bà quan
đi cáng trông nét mặt hao hao giống vợ mình. Hắn lấy làm lạ, vội
đuổi theo để mong được nhìn kỹ tận mắt. Đứng đón nấp sau cổng
chùa, hắn thấy bà quan ấy từ mặt mũi, tầm vóc cho đến dáng đi,
giọng nói quả đúng là vợ cũ mình, không nghi ngờ gì nữa. Rồi hỏi
thăm mấy người lính hầu, hắn biết thêm rằng chồng của nàng không
phải ai xưa lạ mà chính là người học trò thi đậu cử nhân ở làng bên
cạnh, đưã đứng trò chuyện với vợ mình trước khi hắn ném cuốc vào
nàng. Nhưng tại sao hắn đã chôn nàng hai năm rõ mời mà bây giờ
nàng lại sống đường hoàng như thế kia? Trong người hắn nghi nghi
hoặc hoặc, đoán chắc có sự lừa gạt chi đây. Cho nên trở về làng, hắn
đã bày ra chuyện bói toán, cái táng để đưào mộ lên xem cho rõ sự
thật. Và khi thấy áo quan rỗng, hắn vội phát đơn kiện anh chưàng họ
Đưào đưã quyến rũ vợ mình.
Nhưng sau khi nắm được mọi uẩn khúc, quan xử cho hắn
không những mất vợ mà con bị án khổ sai chung thân về tội đưã phũ
phàng đưánh chết vợ và lén lút đem chôn, có đầy đủ tang chứng do
tội nhân tự khai ra. Còn vợ hắn được phép lấy anh chàng họ Đào,
người đã có công giành lại nàng khỏi tay tử thần.


ANH CHÀNG NGHÈO KHỔ
Ngày xưa có hai mẹ con anh chàng nghèo rớt mồng tơi. Anh
chàng lang thang đi kiếm việc làm nhưng chả có ai cho thuê cả. Mãi
sau, có một chủ thuyền buôn thấy anh khoẻ mạnh, lại biết bơi lội mới
thuê làm thuỷ thủ. Hắn hứa cho anh cơm một ngày ba bữa và một
năm bốn mươi quan tiền trả trước. Anh chàng tưởng không có mừng
nào hơn thế nữa, vội cầm ba mươi quan về cho mẹ tiêu, còn mời quan
thì mang theo định để dành may mặc.
Thuyền cất hàng, vợt biển luôn năm ngày đến một thị trấn lớn.
Trên bến người mua kẻ bán chen chúc như hội. Bọn thuỷ thủ bảo
chàng:
- ở đây buôn thứ gì cũng được. Cứ mua một ít đưa về quê nhà
bán là tự khắc có lãi.
Anh chàng xưa nay không quen buôn nên cắm mời quan tiền
trong tay, chưa biết nên mua thứ hàng gì. Bỗng chốc, anh thấy có
một người mang ra bến một con chó trói toan vứt xuống sông. Lấy
làm thương, anh vội ngăn lại và hỏi duyên cớ. Người ấy cho biết chó
này là của chủ mình. Hôm nay chủ đi chợ mua thịt dọn tiệc, không rõ
cất đặt thế nào để chó ăn vụng mất cả. Chủ tức giận trói chó đánh
một trận thừa sống thiếu chết rồi sai đi buông sông. Nghe kể thế,
anh chàng xin mua lại con chó. Người kia cười mà rằng:
- Nó chỉ chuyên môn ăn vụng, anh mua về làm gì?
Chàng đáp:
- Thây kệ, cứ bán nó cho tôi đi!
Cuối cùng anh chàng xỉa ra ba quan mua lại con chó cởi trói cho
nó; đoạn xích lại bên chỗ mình làm việc.
Sau đó một chốc, anh lại trông thấy có một người đàn bà mang
một con mèo toan vứt xuống sông. Anh chàng vội ngăn lại và hỏi
duyên cớ. Khi biết tội trạng của mèo cũng chỉ là ăn vụng, anh nài để
con vật lại cho mình. Thấy người đàn bà khuyên không nên mua thứ
mèo xấu nết, anh không nghe và nói:
- Thây kệ! Chị cứ bán cho tôi đi!
Thế là cuối cùng mèo cũng thoát chết. Và người chủ mới của nó
sau khi xỉa ra ba quan để mua, đem buộc lại gần bên con chó. Ngồi
một mình trên thuyền, thấy buồn, anh chàng bèn bỏ thuyền lên bộ đi
dạo bờ sông. Bỗng chốc anh thấy có ba đứa trẻ chăn trâu bắt được
một con rắn nước, toan dùng roi xử tội. Anh chàng vội chạy lại ngăn
cản:
- Các em đừng đánh nó, nó là rắn nước, có làm hại ai đâu?
- "Mặc kệ chúng tôi", bọn trẻ đáp "Chúng tôi bắt được nó, chúng
tôi đánh, ông cản làm gì?"
Thấy bọn chúng khăng khăng cố tình giết rắn, anh chàng lại
dùng tiền để cứu con vật vô tội. Chúng đòi năm quan. Mãi sau anh
mới bớt được một. Thế là tất cả số tiền mang theo lần lượt vơi đến
hết. Mua được con rắn, anh vội thả xuống sông cho nó trở về xứ sở.
Bọn thuỷ thủ khi nghe anh kể lại những việc mua bán của mình, thì
đều cười ngất, cho là một người khờ dại ít có. Anh chỉ ngồi lặng yên,
không nói gì cả.
Khi thuyền bắt đầu trở về vào khoảng nửa đêm, anh đang chèo
bỗng thấy con rắn nước từ dưới sông bơi lên trao cho mình một viên
ngọc mà nói:
- Chưa tôi là Long Vương cảm ơn anh cứu mạng tôi, cho tôi đem
biếu anh viên ngọc "băng xuyên" để mời anh xuống chơi. Mang ngọc
vào mình, anh có thể đi được dưới nước cũng như đi trên bộ.
Anh chàng nghe nói vội vàng chèo đi theo con rắn nước xuống
thuỷ phủ. Quả nhiên anh được Long Vương tiếp đãi rất hậu, tống
tiễn ngọc vàng châu báu rất nhiều. Sau đó, anh được người của Long
Vương đưa về đến tận nhà.
Chủ thuyền mất hút anh, tưởng anh đã rơi xuống nước, bèn đỗ
thuyền lại trình xưa sở tại. Nhưng khi mọi người về đến quê hương
thì họ rất lấy làm ngạc nhiên vì anh thuỷ thủ trẻ đưã về đến nhà ba
ngày trước rồi.
Từ đó anh trở nên giầu có. Nhưng anh vẫn sống một cuộc đời
bình thường với mẹ già. Con chó, con mèo được anh cứu vẫn theo anh
không rời. Về sau, anh lấy vợ. Vợ anh là một cô gái rất đẹp. Nàng rất
thích đeo nữ trang, thấy viên ngọc "băng xuyên" chiếu sáng một góc
tủ, nàng thích lắm, nên một hôm lấy trộm mang đến cho một người
thợ kim hoàn, bảo đưánh cho mình một chiếc nhẫn. Không ngờ,
người thợ kim hoàn biết là ngọc quý ít có trong thế gian, bèn đi kiếm
một viên khác tơng tự như thế đánh tráo mà cướp lấy bảo vật.
Khi biết rõ chuyện mất cắp thì anh chàng thuỷ thủ trở nên
buồn bã. Hàng ngày anh ra bờ sông, mong tìm lại con rắn nước
nhưng chưa làm sao gặp được. Chó và mèo thấy chủ không vui, một
hôm nói với chủ xin đi tìm viên ngọc.
Đường đi đến nhà người thợ kim hoàn phải qua một con sông
rộng. Không có cách gì để vợt cả, hai con vật cứ loanh quanh ở trên
bờ. Về sau chúng nó tìm được vào nhà một con rái cá nghe và nhờ nó
đưa giúp qua sông. Rái cá vui lòng gọi cho các bạn bè của nó đứng sát
vào nhau, kết thành một cái bè cho chó và mèo ngồi lên lưng, chở qua
sông yên lành.
Khi đến nhà người thợ kim hoàn, mèo bảo chó:
- Để tao trèo lên nóc nhà kêu lên mấy tiếng cho những con chó
trong xóm xúm lại sủa. Thế là mày cứ đường hoàng theo cổng mà
vào, không ai biết.
Quả nhiên, bầy chó của nhà người thợ kim hoàn nghe mấy
tiếng mèo kêu vội xông ra đuổi. Mèo dẫn chúng đi thật xa nên cho ta
lẻn vào nấp dưới cái hầm, vô sự.
Khi hai con vật gặp nhau lại, chúng tìm tòi khắp trong nhà. Tất
cả của cải của lão kim hoàn đều bỏ trong cái rương xe, luôn luôn
khoá kín, không dễ gì lọt vào được. Mèo bèn cố sức tìm, chụp bắt
được, chụp bắt được một con chuột. Chuột van lạy xin tha mạng. Mèo
bảo nó dẫn mình đến gặp chuột chúa đàn. Mèo nói rõ việc mình đến
đây và nhờ hắn giúp mình lấy cho được viên ngọc, đổi lại mèo hứa sẽ
không chạm đến gia tộc nhà hắn. Chuột chúa đưàn vâng dạ rối rít.
- Để tôi bảo lũ con cháu, tôi tớ trong nhà khoét chiếc rương cuả
nó ra, tìm cho các ông.
Nhưng đến khi lọt vào được vào rương, lũ chuột tìm mãi vẫn
không thấy ngọc. Chuột chúa đàn ra báo cho mèo biết, và nói:
- Trong rương này có một cái hộp bằng bạc. Có lẽ nó giấu trong
đó; cái hộp đó thì khó lòng mà gặm được.
- Vậy làm thế nào bây giờ? - mèo hỏi.
- Chỉ có cách là chúng tôi sẽ nhờ xóm giềng hợp sức cùng chúng
tôi khoét rộng lỗ thủng làm sao đưa lọt cái hộp ấy ra đây cho các ông
tìm.
- Thế thì làm gấp đi.
Chỉ trong một đêm, cả xóm nhà chuột đưa lấy được cái hộp đưa
cho mèo. Hai con vật tìm cách phá hộp ra, quả thấy viên ngọc của
chủ. Chúng vô cùng mừng rỡ.
Sau khi ra khỏi nhà người thợ kim hoàn, chó tranh mèo mang
ngọc. Nhưng đến lúc sắp sửa sang sông, vì mắng nhau với một con
chó khác, nên chó đã để cho ngọc văng xuống nước. Một con cá trông
thấy ngọc vội bơi tới đớp và nuốt ngay.
Thấy chó để mất ngọc, mèo giận quá, mắng cho một trận thậm
tệ. Chó biết lỗi, lặng thinh, cuối cùng mếu máo:
- Biết làm sao bây giờ?
Suy nghĩ một lát, mèo tìm được một kế bảo chó:
- Chúng ta sẽ tìm đến nhà thuyền chài ở vùng này xin ở với họ.
Thế rồi chờ khi họ câu được con cá đã nuốt viên ngọc thì sẽ kiếm cách
cướp lấy đem về.
Chó khen mưu kế hay, bèn cùng mèo tìm đến một gia đình ông
chài đang đỗ thuyền lại ở bờ sông phơi lới. Hai con vật tỏ ra rất khôn
ngoan, hiền lành nên được cả nhà đối đãi tử tế.
Mấy hôm sau, ông chài đánh mẻ lới được một con cá chày rất
lớn, mổ ruột ra, thấy có viên ngọc. Chó và mèo khấp khởi mừng
thầm. Trong khi cả nhà